Chu kỳ của một cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên bao gồm ba giai đoạn

Đặc điểm sinh thái, sinh sản của cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên

1.2.1. Thời vụ

      – Vụ Xuân (tháng 3-4): Hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.

      – Vụ Hè Thu (tháng 5 – 10): Hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá

      – Vụ Thu Đông (Tháng 11): hái chừa lá cá , tháng 12 hái cả lá cá

      – Với các giống Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên có dạng thân bụi, sinh trưởng đỉnh đều có thể hái kéo hay hái bằng máy để nâng cao năng suất lao động.

1.2.2. Chu kỳ phát triển

Chu kỳ của một cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên bao gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn cây non hay giai đoạn thiết kế cơ bản. Các bụi Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên phải trồng 3-4 năm kể từ khi gieo trồng mới phát triển thành cây trưởng thành. Sau đó là giai đoạn cây lớn và giai đoạn cuối là giai đoạn Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên già cỗi. Giai đoạn Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên lớn kéo dài 20 – 30 năm, tuỳ giống, điều kiện đất đai, dinh dưỡng và khai thác. Chăm sóc kém và khai thác nhiều sẽ làm cho cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên bị suy thoái, già trước tuổi. Đây là giai đoạn Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên cho năng suất cao nhất. Sau đó là giai đoạn Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên già cỗi, cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên suy yếu dần, lá nhỏ, búp ít, chóng mù xoè, hoa quả nhiều, cành tăm hương nhiều, chồi gốc mọc nhiều. Đến giai đoạn này, người trồng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên phải dùng các biện pháp kỹ thuật để tạo tán mới cho Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên như đốn đau, đốn trẻ lại. Thời gian kéo dài tuổi thọ cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên có thể từ 5-10 năm.

1.2.3. Yêu cầu đầu vào

  1. Ánh sáng

Cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên nguyên là một cây rừng mọc trong những điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á. Về nhu cầu ánh sáng, cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên là cây trung tính trong giai đoạn cây con, lớn lên ưa sáng hoàn toàn.  Dưới bóng râm, là Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên xanh đậm, lóng dài, búp non lâu, hàm lượng nước cao nhưng búp thưa, sản lượng thấp vì quang hợp yếu. Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến phẩm chất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên hơn ánh sáng trực xạ. Sương mù nhiều, ẩm ướt, nhiệt độ thấp, biên độ nhiệt ngày đêm lớn ở vùng đồi núi cao là điều kiện để sản xuất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên có chất lượng cao trên thế giới.

  1. Nhiệt độ

Nhiệt độ không khí thuận lợi cho sinh trưởng của Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên là 22-280C; búp Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên sinh trưởng chậm ở 15-180C, dưới 100C mọc rất chậm. Trên 300C Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên mọc chậm, trên 400C Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên bị khô xém nắng lá non.

  1. Nước

Nước giữ vai trò quan trọng trng sản xuất nông nghiệp và công nghệ chế biến. Nước là thành phần chủ yếu của chất nguyên sinh, là nguyên tố quan trọng để đảm bảo các hoạt động sinh lý của cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên. Về nông nghiệp, nước quyết định sản lượng và chất lượng của Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên; trong công nghiệp, nước là thành phần biến đổi nhiều trong các công đoạn héo, vò, lên men, sấy khô.

Hàm lượng nước trong Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên biến động theo từng bộ phận, giống Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên, biện pháp kỹ thuật và khí hậu thời tiết trong năm. Nói chung, các tổ chức non có nhiều nước hơn các bộ phận già. Mưa nhiều sản lượng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên cao nhưng chất lượng thấp.

Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho sinh trưởng cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên trên thế giới là 1.500-2.000mm. Độ ẩm tương đối không khí từ 80-85% có lợi cho sinh trưởng của Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên.

  1. Dinh dưỡng

– Đạm

Đạm tập trung ở các bộ phận còn non như: búp Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên và lá non. Đạm tham gia vào sự hình thành các axitamin và protein. Bón đủ đạm lá Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên có màu xanh, quang hợp tốt, cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên sinh trưởng khoẻ, nhiều búp, búp to. Thiếu đạm chồi lá ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp. Bởi vậy bón đạm làm tăng năng suất từ 2-2,5 lần so với không bón. Bón đạm quá nhiều hay đơn độc làm Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên có vị đắng, giảm phẩm chất.

– Lân

Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic. Lân có vai trò quan trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên, nâng cao chất lượng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên. Thiếu lân lá Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên xanh thẫm, có vết nâu 2 bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp.

– Kali

Kali có trong tất cả các bộ phận của cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên nhất là thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng. Kali tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm tăng khả năng hoạt động của các men, làm tăng sự tích luỹ gluxit và axitamin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp, làm tăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên.

Thiếu Kali lá Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên có vết nâu, rụng lá nhiều, búp nhỏ, lá nhỏ.

– Trung và vi lượng

Theo một số nhà nghiên cứu, tác dụng của các yếu tố trung và vi lượng chỉ thể hiện rõ nét ở các đồi Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên nhiều tuổi chuyên bón các loại đa lượng lâu năm. Phân vi lượng gồm có: Bo, Mn, Zn, Cu…; phân trung lượng gồm có: Ca, Mg, S, Al…

1.2.4. Phân bố địa lý, thuận lợi và khó khăn

  1. Vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Tây Bắc

* Điều kiện khí hậu:

Đặc điểm quan trọng nhất là mùa đông tương đối ẩm, điển hình cho khí hậu gió mùa. Mùa đông ấm hơn vùng Việt Bắc 1-20­­C và vùng Đông Bắc 2-30­­C. Cuối mùa đông hanh nặng. Tháng 2-4 độ ẩm ở mức thấp nhất năm (75%). Lượng mưa mùa đông ít (10%/năm), số ngày mưa ít.

Dao động nhiệt độ ngày đêm mạnh mẽ, nhất là ở các thung lũng có nhiều khả năng xuất hiện sượng muối. Mùa hạ đến sớm, tháng 3 đã có nhiệt độ vượt 300­­C, tháng 4 rất nóng, tháng 6 nóng nhất. Mùa mưa cũng bắt đầu sớm hơn 1tháng (tháng 4) và kết thúc sớm 1 tháng (tháng 9).

Đầu mùa hạ có gió Tây rất khô nóng, hơn cả Vinh và Đồng Hới.

Khí hậu Tây Bắc có các trị số trung bình sau đây:

Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 2-50­­C

Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 35-380­­C

Nhiệt độ trung bình năm 13-230­­C

Lượng mưa bình quân năm 1.500-2000mm

Mùa khô Tây Bắc diễn ra từ tháng 11 đến tháng 3. Thời gian khô hạn kéo dài cộng thêm nhiệt độ xuống thấp làm cho sinh trưởng và năng suất Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên giảm sút lớn.

* Điều kiện đất đai

Vùng Tây Bắc có các loại đất thích hợp cho cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên như: đất đỏ vàng, đất đỏ nâu, tầng đất dày, ít dốc (<250)

* Hiện trạng sản xuất

Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên trồng tập trung ở Sơn La (3 tiểu vùng Mộc Châu, Mai Sơn, Phù yên), Lai Châu (2 tiểu vùng Phong Thổ, Tam Đường).

  1. Vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn

Gồm các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Bắc Cạn và phía Tây Yên Bái (Nghĩa Lộ, Văn Chấn)

* Điều kiện khí hậu

Vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn có địa hình phức tạp, đại bộ phận là vùng núi thấp, độ cao 100-500m. Khí hậu có các đặc điểm sau:

– Mùa đông ít lạnh hơn Đông Bắc. Sương muối là hiện tượng phổ biến.

– Không khí ẩm ướt hầu như quanh năm. Đặc biệt mưa phùn nửa cuối mùa đông (50 ngày/năm) rất có lợi cho sinh trưởng cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên về mùa đông.

– Mùa hạ có mưa lớn trên các sườn núi cao và trong những thung lũng gây xói mòn mạnh vườn Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên trên sườn núi Tây Côn Lĩnh.

– Vùng có độ ẩm cao nhất cả nước. Độ ẩm trung bình 85-86%, ở núi cao là 87-88% giữa mùa hạ (tháng 7-8), xấp xỉ 90% ở vùng thấp, trên 90% ở vùng cao.

– Nắng ít, số giờ nắng bình quân là 1400-1600 giờ/năm, nhiều nhất vào tháng 5, ít nhất vào tháng 1.

* Điều kiện đất đai

Các loại đất trồng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên chủ yếu là đất đồi và núi bao gồm các loại đất đỏ vàng, đất vàng phát triển trên sa thạch và phiến thạch.

* Hiện trạng sản xuất

Ở vùng này có Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên đồi công nghiệp và Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên rừng dân tộc.

– Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên đồi công nghiệp như Công ty Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Sông Lô, Tân Trào, Mỹ Lâm, Việt Lâm, Hùng An, Trần Phú, Nghĩa Lộ, Yên Bái, Văn Hưng, Bảo Ái.

– Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên rừng dân tộc Dao tập trung ở độ cao 300-600m. Khí hậu vùng này ẩm mát, sương mù nhiều, độ ẩm cao quanh năm, búp non trẻ lâu, chất lượng tốt. Đất trồng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên thường là rừng già, nhiều mùn. Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên trồng ven suối, dưới tán cây lớn, đất dốc thoải.

  1. Vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Trung du Bắc Bộ

Vùng này nằm tại ranh giới giữa miền núi và miền đồng bằng Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình, Vĩnh Phú, Thái Nguyên, Hà Tây và Hà Nội.

* Điều kiện khí hậu

– Mùa đông có thời kỳ đầu tương đối khô, nửa cuối rất ẩm ướt có gió nồm và mưa phùn. Mùa hạ ẩm ướt, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.

– Khí hậu chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng núi. Biên độ nhiệt ngày đêm lớn hơn đồng bằng 0,50­­C, sương muối nhẹ hơn vùng núi.

* Điều kiện đất đai

Đất vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên trung du Bắc Bộ chủ yếu là feralit phân bố ở các địa hình đồi núi, chia cắt mạnh gồm 5 loại chính sau:

– Đất phát triển trên phiến thạch sét ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà Bình, Thái Nguyên.

– Đất phát triển trên phiến thạch gneiss và mica ở Phú Hộ.

– Đất nâu đỏ ở Thái Nguyên

– Đất nâu đỏ trên phù sa cổ ở Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nội.

– Đất vàng nhạt phát triển trên đá cát ở Thái Nguyên, Vĩng Phúc, Tam Đảo, Hà Tây, Hà Nội.

* Hiện trạng sản xuất

Đây là vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên lớn miền Bắc, có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên lâu đời như Vân Lĩnh, Đoan Hùng, Sông Cầu, Văn Hưng, Phú Sơn… Năng suất bình quân của vùng khoảng 3-4 tấn búp/ha, không đồng đều có sự chênh lệch lớn giữa các tỉnh.

  1. Vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Bắc Trung Bộ

Đây là vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên tươi lâu đời nhất của Việt Nam gồm 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.

* Điều kiện khí hậu

– Mùa đông bớt lạnh so với Bắc Bộ. Tuy nhiên trong những đọt gió mùa Đông Bắc mạnh nhiệt độ có thể rất thấp (50­­C) và vẫn có sương muối xuất hiện.

– Mùa đông cũng rất ẩm ướt. Độ ẩm trung bình trong các tháng mùa đông lớn hơn 85%, lượng mưa tháng cực tiểu cũng tới 30-40mm.

– Vào đầu mùa hạ có một thời kỳ gió Tây. Tháng 7 là tháng nóng nhất và độ ẩm thấp nhất trong năm.

– Mưa ẩm về cuối mùa hạ. Lượng mưa cực đại bắt đầu từ tháng 9, kéo dài hết tháng 11. Chỉ riêng 2 tháng 9-10 đã chiếm 40-50% lượng mưa cả năm.

– Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23-240­­C.

* Điều kiện đất đai

Gồm các loại đất chủ yếu là đất vàng đỏ, sa thạch, phù sa cổ.

* Hiện trạng sản xuất

Hiện nay có khoảng 10 nhà máy chế biến Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên xanh và Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên đen cho xuất khẩu (Bãi Trành, Yên Mỹ, Hạnh Lâm, Bãi Phủ, Anh Sơn, …)

  1. Vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Tây Nguyên

Đây là vùng đất rộng trên dãy núi Trường Sơn với nhiều núi cao, cao nguyên rộng và bằng phẳng của 3 tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum.

* Điều kiện khí hậu

– Có sự tương phản sâu sắc giữa mùa khô và mùa mưa. Lượng mưa trong mùa khô (tháng 11 – tháng 3) chỉ chiếm từ 7-8% lượng mưa cả năm, độ ẩm tương đối không khí rất thấp 70%. Mùa hạ lượng mưa rất lớn (1.800-2.800mm) chiếm 90% lượng mưa cả năm, thuộc loại cao ở Việt Nam, độ ẩm tương đối không khí rất cao 85%.

– Biên độ dao động nhiệt ngày và đêm rất mạnh 10-110­­C thuộc loại cao nhất toàn quốc.

– Sự phân hoá không gian phức tạp, biến thiên lớn nên đã hình thành các vùng tiểu khí hậu khác nhau: Kon Tum, Gia Lai, Bảo Lộc, Buôn Ma Thuột.

* Điều kiện đất đai

Đất đỏ vàng chiếm xấp xỉ 66% tổng diện tích tự nhiên toàn miền và được chia thành các loại sau:

– Đất màu vàng bazan (ở Bảo Lộc – Đắc Nông).

– Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (ở Bảo Lộc, Di Linh, Đức Trọng).

– Đất nâu vàng

– Đất đỏ vàng

* Hiện trạng sản xuất

Lâm Đồng là tỉnh nhiều Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên nhất cả nước . Vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên Lâm Đồng tập trung nhiều ở Bảo Lộc và  Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng…

  1. Vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên duyên hải miền Trung

Đây là vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên quan trọng của người Việt Nam trước thời kỳ Pháp thuộc. Phần lớn Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên trồng dọc theo duyên hải Trung Bộ, trên sườn của dãy núi Trường Sơn thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, từ 170 đến 150 vĩ Bắc. Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên trồng rải rác, quy mô nhỏ, tiêu thụ trong tỉnh, chế biến Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên xanh theo thủ công.

* Điều kiện  khí hậu

Khí hậu chia thành 2 tiểu vùng. Khí hậu vùng trung Trung Bộ không thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên, ảnh hưởng xấu đến chế độ lên men Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên đen.

* Điều kiện đất đai

Có đất vàng đỏ, đất nâu vàng. Đất đai nghèo kiệt, không có độ cao, năng suất và chất lượng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên thấp.

* Hiện trạng sản xuất

Diện tích Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên vùng này phân bố rải rác ở các tỉnh. Sản xuất tự túc là chủ yếu.

  1. Vùng Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên cánh cung Đông Bắc

* Điều kiện khí hậu

– Vùng này tiếp nhận gió mùa Đông Bắc sớm nhất, nhiệt độ trung bình tháng 1 ở Lạng Sơn là 11,30C, thấp hơn 1-30C so với các vùng khác cùng độ cao. Biên độ năm của nhiệt độ là 13-140C đạt kỷ lục toàn quốc. Tại các vùng thấp cũng có nhiệt độ dưới 00C.

– Vùng này có mùa đông lạnh nhất, nhiều sương muối nhất toàn quốc.

– Vùng này ít mưa do bị cánh cung Đông Triều che khuất nên lượng mưa thấp nhất toàn quốc 1.400mm/năm, 133 ngày mưa, độ ẩm tương đối 81-83%.

* Điều kiện đất đai

Đất thuộc loại đất đỏ vàng, độ xốp trung bình, nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn do mưa lớn trên các sườn dốc.

* Hiện trạng sản xuất

Vùng này có Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên rừng cổ thụ Mẫu Sơn ở Lạng Sơn. Sản phẩm trà xanh là chủ yếu, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu sang Trung Quốc. Do độ cao và nhiệt độ thấp, biên độ ngày đêm cao, nhiều sương mù nên trà có chất lượng cao hơn vùng Trung du Bắc Bộ.

(Nguồn: Cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên sản xuất – tiêu thụ – chế biến)

1.3. Các sản phẩm chính của ngành hàng hoặc là nguyên liệu thô cho những sản phẩm nào.

1.3.1. Trà đen

Thuộc loại lên men, chiếm 80-90% thị trường thế giới (trong tổng sản lượng thế giới 1.878.000 tấn -1990), đến năm 2001 chỉ còn khoảng 75% do nhu cầu tăng lên về trà xanh.

Ấn Độ, Srilanka, Kênia còn chia ra 2 loại: trà đen truyền thống và trà đen mảnh

Trung Quốc lại chia ra 2 loại: trà đen Công phu và trà đen Tiểu chủng.

1.3.2. Trà xanh, trà lục

Trên thế giới có 5 nước sản xuất trà xanh chủ yếu bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia , Việt Nam, Nga.

Sản xuất trà xanh tập trung hơn trà đen, có giá bán cao hơn, do nhu cầu thị trường ngày càng tăng nên có xu hướng tăng trưởng ở một số nước như Srilanca, Ấn Độ, Inđônêxia…

Trà xanh được phân loại thành:

– Trà lục sao suốt

– Trà xanh sấy khô bằng hơi nóng

– Trà xanh phơi nắng, sấy khô bằng phơi nắng

– Trà xanh hấp, dùng hơi nước để diệt men

– Trà lục loại danh trà như: Tây hồ long tỉnh, Hoàng sơn mao phong, Lư sơn Tuyết lộ, Quân sơn Ngân trâm, Đỗng đình hồ Bích, Loa xuân, Lục an Qua phiến, Vũ hoa trà…

1.3.3. Trà ô long

Thuộc loại lên men một nửa, một loại trà đặc chủng của Trung Quốc sản xuất tại Phúc Kiến, Quảng Đông, Đài Loan bao gồm 5 loại sau:

– Thuỷ tiên

– Ô long

– Thiết quan âm. Kỳ chủng

– Sắc chủng

– Bao chủng

1.3.4. Trà trắng hay bạch trà

Thuộc loại đặc sản của Trung Quốc, chỉ lên men nhẹ, sản xuất chủ yếu ở Phúc Kiến. Căn cứ vào giống và độ non của búp chia thành:

– Bạch hào ngân trâm

– Bạch mẫu đơn

– Cống my

– Thọ my

1.3.5. Trà ướp hoa

Gồm có 3 loại:

– Trà xanh ướp hoa như các loại hoa nhài, chu lan, bạch lan, quế, tai tai, bưởi, mễ lan; Việt Nam có trà mạn ướp hoa sen, trà xanh ướp hoa nhài, sói, ngâu…

– Trà đen ướp hoa như hoa hồng, hoa vải

– Trà ô long ướp hoa như hoa quế Thiết quan âm ướp hoa thụ lan gọi là Thụ lan sắc chủng, hoa nhài

Việt Nam ngoài trà hoa tươi như nhài, sen, ngâu, sói… còn có các loại trà hương, hương liệu bao gồm quế, hồi, phá cố chỉ, thìa là… trộn với nhau theo đơn gia truyền.

1.3.6. Trà ép bánh

Trà chế biến xô rồi tái gia công và đem ép thành hình khối khác nhau; ở Trung Quốc có các loại trà đen, trà xanh và hắc trà ép thành bánh hay gạch, oản; căn cứ vào loại trà xô và phương pháp chia thành 3 loại:

– Loại hắc trà ép sạch

– Loại trà xanh ép bánh

– Loại trà đen ép bánh

Việt Nam có Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên chi gồm bánh vuông hay tròn rất được vùng đồng bằng sông Hồng ưa chuộng, thường là Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên tuyết vùng núi, đồng bào miền núi phía bắc còn có Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên mạn, Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên lam, nhồi trong ống bương, ống bương gác trên bếp để chống ẩm.

1.3.7. Sản phẩm mới

Gồm các loại trà hoà tan, trà túi, trà pha sẵn ở thể lỏng uống ngay như trà đóng lon hay chia (ô long, mật ong…). Gần đây còn có các loại trà vị hoa quả (sen, nhài, hồng, dâu, cam, chanh…)

(Nguồn: Cây Chè (Trà) Tân Cương Thái Nguyên sản xuất – tiêu thụ – chế biến)

1.4. Tình hình diện tích, năng suất và sản lượng của ngành hàng trong nước theo chuỗi thời gian hàng năm

Năm  Diện tích

 (ha)

Sản lượng

 (tấn)

Năng suất

(100kg/ha)

1996 74,848 210,544
1997 78,584 234,963
1998 77,392 254,480
1999 84,782 316,515
2000 86,938 314,692
2001 98,300 340,500 45,6
2002 109,100 423,700 54,8
2003 116,349 448,608 52,1
2004 118,738 487,624 54,1
2005 118,400 534,200  56,9

(Nguồn: Số liệu FAO, 2006)

.
.
.
.